Báo cáo xu hướng SXKD ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Quý 2/2023, dự báo Quý 3/2023 – Phần I

“Phần I: Xu hướng SXKD ngành công nghiệp chế biến, chế tạo”, phản ánh nhận định của doanh nghiệp về: (1) Tổng quan chung hoạt động SXKD; (2) Biến động của các yếu tố đầu vào (số lượng đơn đặt hàng, lao động, chi phí sản xuất, công suất sử dụng máy móc, thiết bị); (3) Dự kiến kết quả đầu ra (khối lượng sản xuất, giá bán bình quân của một sản phẩm); (4) Biến động tồn kho (tồn kho thành phẩm, tồn kho nguyên vật liệu) và (5) Kiến nghị của doanh nghiệp.

Theo đánh giá của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, hoạt động SXKD quý II/2023 khởi sắc hơn quý I/2023với 64,2% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD quý II/2023 so với quý I/2023 tốt hơn và giữ ổn định (27,5% tốt hơn và 36,7% giữ ổn định), 35,8% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn[1]Dự báo quý III/2023 khả quan hơn quý II/2023 với 72,6% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD quý III/2023 so với quý II/2023 tốt hơn và giữ ổn định (34,3% tốt hơn, 38,3% giữ ổn định), 27,4% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn.

1Tổng quan chung về hoạt động SXKD

          Đánh giá hoạt động SXKD của doanh nghiệp có thể dựa trên các chỉ số cân bằng[2]. Chỉ số cân bằng chung đánh giá tổng quan xu hướng SXKD của doanh nghiệp, các chỉ số cân bằng thành phần (đơn đặt hàng mới, sử dụng lao động, khối lượng sản xuất và tồn kho thành phẩm) đánh giá về từng hoạt động SXKD cụ thể của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

Chỉ số cân bằng chung

Chỉ số cân bằng chung đánh giá tổng quan xu hướng SXKD quý II/2023 so với quý I/2023 là -8,3% (27,5% nhận định tăng, 35,8% nhận định giảm). Chỉ số cân bằng của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước cao nhất với -5,1% (29,1% tăng, 34,2% giảm); khu vực doanh nghiệp nhà nước -8,4% (27,5% tăng, 35,9% giảm); khu vực doanh nghiệp FDI -15,6% (23,8% tăng, 39,4% giảm).

Chỉ số cân bằng chung quý III/2023 so với quý II/2023 là 6,9% (34,3% doanh nghiệp dự báo tăng, 27,4% doanh nghiệp dự báo giảm). Chỉ số cân bằng khu vực doanh nghiệp nhà nước cao nhất với 8,7% (34,2% tăng, 25,5% giảm); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 7,7% (34,7% tăng, 27,0% giảm); khu vực doanh nghiệp FDI 4,6% (33,5% tăng, 28,9% giảm).

Chỉ số cân bằng đơn đặt hàng mới

         Chỉ số cân bằng đơn đặt hàng mới quý II/2023 so với quý I/2023 là -11,3% (24,9% doanh nghiệp nhận định tăng, 36,2% doanh nghiệp nhận định giảm). Trong đó, chỉ số cân bằng của khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt cao nhất với -7,2%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với -8,3%; thấp nhất là khu vực doanh nghiệp FDI -18,3%;

         Chỉ số cân bằng đơn đặt hàng mới quý III/2023 so với quý II/2023 là 5,9% (32,2% doanh nghiệp dự báo tăng và 26,3% doanh nghiệp dự báo giảm); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước có chỉ số cân bằng đạt cao nhất với 7,3%; khu vực doanh nghiệp nhà nước 5,8% và khu vực doanh nghiệp FDI 2,8%.

Chỉ số cân bằng sử dụng lao động

Chỉ số cân bằng sử dụng lao động quý II/2023 so với quý I/2023 là -13,3% (10,8% doanh nghiệp nhận định tăng, 24,1% doanh nghiệp nhận định giảm). Chỉ số cân bằng của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước cao nhất với -13,0% (9,1% tăng, 22,1% giảm); khu vực doanh nghiệp nhà nước -13,4% (9,1% tăng, 22,5% giảm); thấp nhất là khu vực doanh nghiệp FDI với -13,7% (15,0% tăng, 28,7% giảm).

Chỉ số cân bằng sử dụng lao động quý III/2023 so với quý II/2023 là -3,7% (12,9% tăng và 16,6% giảm); khu vực doanh nghiệp FDI có chỉ số cân bằng cao nhất với -1,3%; khu vực doanh nghiệp nhà nước -3,7% và khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước -4,9%.

Chỉ số cân bằng khối lượng sản xuất

Chỉ số cân bằng khối lượng sản xuất quý II/2023 so với quý I/2023 là -6,0% (28,9% doanh nghiệp nhận định tăng; 34,9% doanh nghiệp nhận định giảm). Chỉ số cân bằng của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước cao nhất với -2,8% (30,4% tăng, 33,2% giảm); khu vực doanh nghiệp nhà nước -4,1% (30,5% tăng, 34,6% giảm); thấp nhất là khu vực doanh nghiệp FDI -13,6% (25,3% tăng, 38,9% giảm).

Chỉ số cân bằng khối lượng sản xuất quý III/2023 so với quý II/2023 là 8,4% (34,3% tăng, 25,9% giảm); khu vực doanh nghiệp nhà nước có chỉ số cân bằng đạt cao nhất với 12,0%; khu vực ngoài nhà nước 9,5% và khu vực doanh nghiệp doanh nghiệp FDI 5,1%.

Chỉ số cân bằng tồn kho thành phẩm

Chỉ số cân bằng tồn kho thành phẩm quý II/2023 so với quý I/2023 là -8,9% (20,8% doanh nghiệp nhận định tăng và 29,7% doanh nghiệp nhận định giảm). Chỉ số cân bằng ở khu vực doanh nghiệp FDI cao nhất với -4,6% (23,8% tăng, 28,4% giảm); khu vực doanh nghiệp nhà nước -10,4% (20,1% tăng, 30,5% giảm); thấp nhất là khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước -10,7% (19,6% tăng, 30,3% giảm).

Chỉ số cân bằng tồn kho thành phẩm quý III/2023 so với quý II/2023 là -13,4% (16,4% tăng, 29,8% giảm); khu vực doanh nghiệp FDI có chỉ số cân bằng đạt cao nhất với -9,1%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước -15,1% và khu vực doanh nghiệp nhà nước -15,8%.

2. Biến động của các yếu tố đầu vào

2.1. Số lượng đơn đặt hàng

          Theo kết quả khảo sát quý II/2023, có 63,8% doanh nghiệp nhận định số lượng đơn đặt hàng mới tăng và giữ nguyên so với quý I/2023 (24,9% tăng, 38,9% giữ nguyên); 36,2% doanh nghiệp nhận định số lượng đơn đặt hàng mới giảm[3].

          Theo ngành kinh tế, ngành sản xuất thuốc lá có tỷ lệ doanh nghiệp nhận định về đơn đặt hàng mới quý II/2023 so với quý I/2023 tăng cao nhất với 43,8%. Ngược lại, ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế có tỷ lệ doanh nghiệp nhận định về đơn đặt hàng giảm nhiều nhất với 45,3%.

          Dự báo số lượng đơn đặt hàng mới quý III/2023 so với quý II/2023 tăng với 73,7% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên (32,2% tăng, 41,5% giữ nguyên), 26,3% doanh nghiệp dự báo số lượng đơn đặt hàng mới giảm.

Đơn đặt hàng xuất khẩu mới

          Trong số các doanh nghiệp được khảo sát, có 61,7% doanh nghiệp nhận định số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới quý II/2023 tăng và giữ nguyên so với quý I/2023 (18,5% tăng, 43,2% giữ nguyên), tỷ lệ doanh nghiệp nhận định có đơn đặt hàng xuất khẩu mới giảm là 38,3%[4].

          Theo ngành kinh tế, ngành sản xuất xe có động cơ có tỷ lệ doanh nghiệp nhận định về đơn đặt hàng xuất khẩu mới quý II/2023 so với quý I/2023 tăng cao nhất với 32,3%. Ngược lại, ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế có tỷ lệ doanh nghiệp nhận định về đơn đặt hàng xuất khẩu mới giảm nhiều nhất với 54,8%.

          Các doanh nghiệp dự báo số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới quý III/2023 khả quan hơn với 72,9% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên so với quý II/2023 (26,7% tăng, 46,2% giữ nguyên); 27,1% doanh nghiệp dự báo giảm.

2.2. Sử dụng lao động

Lao động trong các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý II/2023, có 10,8% doanh nghiệp nhận định sử dụng lao động so với quý I/2023 tăng; 65,1% doanh nghiệp nhận định giữ nguyên và 24,1% doanh nghiệp nhận định giảm[5].

          Theo ngành kinh tế, ngành sản xuất xe có động cơ có tỷ lệ doanh nghiệp nhận định lao động quý II/2023 so với quý I/2023 tăng cao nhất với 28,6%. Ngược lại, ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan có tỷ lệ doanh nghiệp nhận định lao động quý II/2023 so với quý I/2022 giảm nhiều nhất với 40,2%.

Dự báo sử dụng lao động quý III/2023 so với quý II/2023 khả quan hơn với 83,4% số doanh nghiệp dự kiến số lao động tăng và giữ nguyên (12,9% tăng, 70,5% giữ nguyên); 16,6% doanh nghiệp dự kiến lao động giảm.

2.3. Chi phí sản xuất

Kết quả khảo sát cho thấy, quý II/2023 có 91,0% doanh nghiệp nhận định chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm tăng và giữ nguyên (31,1% tăng, 59,9% giữ nguyên); 9,0% doanh nghiệp nhận định giảm[6] so với quý I/2023.

          Theo ngành kinh tế, ngành sản xuất sản phẩm thuốc lá có tỷ lệ doanh nghiệp nhận định chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm quý II/2023 so với quý I/2023 tăng cao nhất với 52,6%. Ngược lại, ngành sản xuất kim loại có tỷ lệ doanh nghiệp nhận định chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm quý II/2023 so với quý I/2023 giảm nhiều nhất với 14,8%.

          Dự báo quý III/2023 so với quý II/2022, có 90,8% doanh nghiệp dự báo chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm tăng và giữ nguyên (25,8% tăng, 65,0% giữ nguyên), 9,2% doanh nghiệp dự báo chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm giảm.

2.4. Công suất sử dụng máy móc, thiết bị

Trong quý II/2023, công suất sử dụng máy móc, thiết bị bình quân của các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo là 72,0%[7]. Có 39,2% doanh nghiệp đánh giá công suất sử dụng máy móc, thiết bị trong khoảng từ 70% đến dưới 90%; 26,7% doanh nghiệp đánh giá công suất sử dụng từ 90% đến 100%; 21,8% doanh nghiệp đánh giá công suất sử dụng từ 50% đến dưới 70% và 12,3% doanh nghiệp đánh giá công suất sử dụng dưới 50%.

          Theo ngành kinh tế, ngành sản xuất xe có động cơ đánh giá công suất sử dụng máy móc thiết bị cao nhất với 80,4%. Ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) với 64,0% là ngành có tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá công suất sử dụng máy móc thiết bị thấp nhất.

3. Dự kiến kết quả đầu ra

3.1. Khối lượng sản xuất

Kết quả khảo sát quý II/2023, có 65,1% doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất tăng và giữ nguyên so với quý I/2023 (28,9% tăng, 36,2% giữ nguyên), 34,9% doanh nghiệp đánh giá giảm[8].

Theo ngành kinh tế, ngành sản xuất đồ uống có tỷ lệ doanh nghiệp nhận định khối lượng sản xuất quý II/2023 so với quý I/2023 tăng cao nhất với 47,1%. Ngược lại, ngành sản xuất trang phục có tỷ lệ doanh nghiệp nhận định khối lượng sản xuất giảm nhiều nhất với 41,5%.

Khối lượng sản xuất quý III/2023 so với quý II/2023 khả quan hơn với 74,1% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên (34,3% tăng, 39,8% giữ nguyên), 25,9% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất giảm.

3.2. Giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm

Tỷ lệ doanh nghiệp cho biết giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm quý II/2023 so với quý I/2023 tăng và giữ nguyên là 85,2% (16,1% tăng, 69,1% giữ nguyên), 14,8% doanh nghiệp nhận định giảm[9].

Theo ngành kinh tế, ngành sản xuất thuốc lá có tỷ lệ doanh nghiệp nhận định giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm quý II/2023 so với quý I/2023 tăng cao nhất với 42,1%. Ngược lại, ngành sản xuất kim loại có tỷ lệ doanh nghiệp nhận định giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm giảm nhiều nhất với 34,8%.

Giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm quý III/2023 so với quý II/2023, có 88,4% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên (17,4% tăng, 71,0% giữ nguyên), 11,6% doanh nghiệp dự báo giảm.

4. Biến động tồn kho

4.1. Tồn kho thành phẩm

Theo kết quả khảo sát, có 20,8% doanh nghiệp nhận định khối lượng thành phẩm tồn kho quý II/2023 tăng so với quý I/2023; 49,5% doanh nghiệp đánh giá giữ nguyên và 29,7% đánh giá giảm[10].

Theo ngành kinh tế, ngành sản xuất đồ uống có tỷ lệ doanh nghiệp nhận định tồn kho thành phẩm quý II/2023 so với quý I/2023 tăng cao nhất với 32,4%, ngược lại, ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế có tỷ lệ doanh nghiệp nhận định tồn kho thành phẩm quý II/2023 so với quý I/2023 giảm nhiều nhất với 35,1%.

Dự báo quý III/2023 so với quý II/2023, có 16,4% doanh nghiệp dự báo khối lượng tồn kho thành phẩm tăng; 53,8% doanh nghiệp dự báo giữ nguyên khối lượng tồn kho thành phẩm; 29,8% doanh nghiệp dự báo khối lượng tồn kho thành phẩm giảm.

4.2. Tồn kho nguyên vật liệu

Kết quả khảo sát cho thấy, có 69,4% doanh nghiệp nhận định tồn kho nguyên vật liệu quý II/2023 so với quý I/2023 tăng và giữ nguyên (18,0% tăng, 51,4% giữ nguyên), 30,6% doanh nghiệp nhận định giảm[11].

Dự báo quý III/2023 so với quý II/2023, có 15,1% doanh nghiệp đánh giá khối lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng, 54,8% doanh nghiệp đánh giá giữ nguyên và 30,1% doanh nghiệp dự kiến giảm khối lượng tồn kho nguyên vật liệu.

5Kiến nghị của doanh nghiệp

Hoạt động SXKD của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý II/2023 tuy vẫn gặp khó khăn nhưng đã có dấu hiệu phục hồi. Khu vực doanh nghiệp FDI gặp nhiều khó khăn nhất với chỉ số cân bằng chung dưới 0% trong ba quý liên tiếp (quý IV/2022 là -14,7%; quý I/2023 là -14,9%; quý II/2023 là -15,6%).

Trong quý II/2023, hai yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp” và “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao” vẫn là những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp với tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn lần lượt là 55,5% và 47,2%. Việc cắt điện luân phiên tại một số địa phương phía bắc đã ảnh hưởng đến SXKD của doanh nghiệp, thể hiện qua yếu tố “thiếu năng lượng” trở thành lựa chọn của nhiều doanh nghiệp với 8,5% doanh nghiệp lựa chọn, tăng 7,1% so với quý trước, đây là yếu tố biến động nhiều nhất trong số các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Quý II/2023 cũng là quý đầu tiên trong vòng 5 năm gần đây tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng công suất máy móc, thiết bị từ 70% đến dưới 90% đạt dưới 40%.

Để hỗ trợ hoạt động SXKD của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong các tháng tiếp theo, các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo kiến nghị:

Thứ nhất, đảm bảo ổn định năng lượng, cung cấp đủ điện cho các doanh nghiệp hoạt động SXKD liên tục, không bị gián đoạn.

Thứ hai, kích cầu thị trường trong nước nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm đối tác tiêu thụ sản phẩm hiệu quả.

Thứ ba, các doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính mong muốn được giảm lãi suất vay vốn và được hỗ trợ quá trình hoàn thiện hồ sơ vay vốn nhanh hơn để doanh nghiệp có nguồn vốn SXKD kịp thời và hiệu quả hơn.


[1] Chỉ số cân bằng thể hiện số phần trăm doanh nghiệp nhận định tăng trừ đi số phần trăm doanh nghiệp nhận định giảm.

[2] Chỉ số tương ứng của quý I/2023: 60,3% doanh nghiệp nhận định đơn đặt hàng mới tăng và giữ nguyên (22,1% tăng; 38,2% giữ nguyên) và 39,7% nhận định giảm.

[3] Chỉ số tương ứng của quý I/2023: 59,9% doanh nghiệp nhận định đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng và giữ nguyên (16,9% tăng; 43,0% giữ nguyên) và 40,1% nhận định giảm.

[4] Chỉ số tương ứng của quý I/2023: 10,5% doanh nghiệp nhận định sử dụng lao động tăng, 66,9% giữ nguyên và 22,6% nhận định giảm.

[5] Chỉ số tương ứng của quý I/2023: 92,4% doanh nghiệp nhận định chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm tăng và giữ nguyên (34,3% tăng; 58,1% giữ nguyên) và 7,6% nhận định giảm.

[6] Chỉ số tương ứng của quý I/2023 là 72,3%.

[7] Chỉ số tương ứng của quý I/2023: 60,6% doanh nghiệp nhận định khối lượng sản xuất tăng và giữ nguyên (24,9% tăng; 35,7% giữ nguyên) và 39,4% doanh nghiệp nhận định giảm.

[8] Chỉ số tương ứng của quý I/2023: 87,7% doanh nghiệp nhận định giá bình quân một một đơn vị sản phẩm tăng và giữ nguyên (18,1% tăng; 69,6% giữ nguyên) và 12,3% giảm.

[9] Chỉ số tương ứng của quý I/2023: 21,2% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm tăng; 49,2% doanh nghiệp đánh giá giữ nguyên; 29,6% doanh nghiệp đánh giá giảm.

[10] Chỉ số tương ứng của quý I/2023: 19,0% doanh nghiệp nhận định tồn kho nguyên vật liệu tăng; 52,2% nhận định giữ nguyên; 28,8% nhận định giảm.

(Nguồn Tổng cục thống kê)

Related Posts

Xu Hướng Của Tỷ Giá, Lạm Phát Và Chính Sách Tiền Tệ Trong Giai Đoạn Cuối Năm 2023

Diễn biến tỷ giá USD/VND Tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ngày 15/9 tăng lên mức 24.036 đồng/USD. Cùng xu hướng, tỷ…

[Bản tin tuần] Kinh tế Việt Nam và Thế giới tuần 14/08 – 18/08/2023

Mỹ: – Lợi suất trái phiếu kho bạc 10 năm của Hoa Kỳ tăng lên 4,28%, cao nhất kể từ tháng 12 năm 2007. Lợi suất thực…

[Bản tin tuần] Kinh tế Việt Nam và Thế giới tuần 07/08 – 11/08/2023

Mỹ – Theo báo cáo của FED trong tháng 7/2023, CPI tăng 0.2% so với tháng trước, khớp với dự báo của các chuyên gia. Nếu so với cùng…

Một vài điểm nhấn quan trọng của CPI Mỹ vừa công bố

Theo báo cáo của FED trong tháng 7/2023, CPI tăng 0.2% so với tháng trước, khớp với dự báo của các chuyên gia. Nếu so với cùng kỳ, CPI tăng 3.2%,…

Các nhóm ngành thuộc S&P 500 có hiệu suất cao nhất qua chu kỳ kinh doanh.

Các ngành S&P 500 có hiệu suất cao nhất qua chu kỳ kinh doanh. Chu kỳ kinh doanh biến đổi theo thời gian, từ những đỉnh của…

[Bản tin tuần] Kinh tế Việt Nam và Thế giới tuần 24-29/07/2023

1. Thế giới: Mỹ: – Fed nâng lãi suất lên cao nhất 22 năm, Fed quyết định tăng lãi suất chủ chốt thêm 0,25 điểm phần trăm,…

Leave a Reply

%d bloggers like this: